“Thiên Trường vãn vọng” tâm thiền rực sáng

182

Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn vào ngày mùng 1 tháng 11 năm Mậu Thân (16/12/1308), vua Trần Nhân Tông sinh ngày 07/12/1258, Phật lịch 1305. Sự nghiệp của Ngài, hai lần Ngài cùng triều đình, tướng sĩ, nhân dân chống và chiến thắng quân Nguyên – Mông, lập nên sự nghiệp vẻ vang. Là một anh hùng dân tộc, một nhà vua tài đức vẹn toàn, ngoài chiến công hiển hách, sau khi đất nước thanh bình, Ngài bắt tay xây dựng đất nước, ổn định đời sống nhân dân, một thời gian sau Ngài xuất gia đầu Phật.

Về văn học, Ngài có nhiều tác phẩm, trong đó, thơ có 32 bài, ba đoạn phiến, nhưng chỉ 20 bài thơ có hình tượng thiền. “Thiên trường vãn vọng” là một trong 20 bài thơ đó.

THIÊN TRƯỜNG VÃN VỌNG

“Thiên Trường vãn vọng”, một bài thơ, có lẽ được Ngài sáng tác trong lúc về Thiên Trường, có thể Ngài đến phủ Thiên Trường để chuẩn bị vân du vào Chiêm Thành:

Nguyên văn:

“Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền.”

Dịch thơ:

“Trước xóm sau thôn tựa khói lồng
Bóng chiều man mác có, dường không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.”

(Ngô Tất Tố dịch)

Bài thơ ghi lại cảnh thiên nhiên và sinh hoạt vào buổi chiều tà từ hành cung Thiên Trường nhìn ra cánh đồng bao la, cảnh chiều thật đẹp với đường nét, màu sắc, âm thanh hòa quyện vào nhau làm nổi bật bức tranh tuy tả thực nhưng không kém màu huyền ảo mà lại thấm hương sắc thiền vị.

“Thôn trước thôn sau tựa khói lồng,

Bóng chiều dường có lại dường không”

Phật hoàng ghi nhận vả tả thực cảnh chiều xuống, ánh chiều buông xuống, cảnh vật đổi thay: Hình ảnh ngôi làng mờ dần, mờ dần ẩn hiện qua màn sương khói mong manh, như những làn khói lam chiều. Cảnh ảo hóa dần, mông lung, mơ hồ, gợi nét tĩnh mịch nơi thôn dã, bình yên. Làm lay động lòng người,

Câu tiếp theo, cánh đồng (thôn xóm) vào buổi chiều tà lúc ẩn, lúc hiện (bán vô, bán hữu) gợi vẻ đẹp riêng có nhưng không xa lạ vì đây là hình ảnh của làng quê. Không chỉ cảnh vật của chiều xuống mà lý Bát Nhã còn được hiển lộ bởi cặp từ: “Không (vô) – Sắc (hữu)”. Bát Nhã Tâm Kinh rất có ý nghĩa với Tổ sư Thiền (Thiền tông), Bát Nhã Tâm Kinh ứng dụng trong Thiền tông thật tuyệt diệu vì qua Bát Nhã Tâm Kinh, hành giả sẽ đạt trí tuệ bát nhã, lìa đối đãi, thấy thẳng (Trực giác), sạch hết tình chấp, để rồi đạt ý quên lời. Vậy, chỉ mới có hai câu mà tâm thiền đã bàng bạc.

“Mục đồng thổi sáo trâu về hết,

Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.”

Ngài ghi nhận cảnh mục đồng chăn trâu cùng trâu đi về kèm theo tiếng sáo và những cánh cò không thiếu trên đồng quê chao liệng xuống đồng. Đây là ba hình ảnh được chắt lọc trong buổi chiều tà. Phải chăng những hình ảnh mang tính biểu tượng của các bức tranh trong “Thập Mục Ngưu Đồ” (Mười bức tranh chăn trâu). Tranh Thiền tông, tranh được thể hiện như sau: 1. Tìm trâu, 2. Thấy dấu, 3. Thấy trâu, 4. Được trâu, 5. Chăn trâu, 6. Cưỡi trâu về nhà, 7. Quên trâu còn người, 8. Người trâu đều quên (vẽ vòng tròn), 9. Trở về nguồn cội, 10. Thõng tay vào chợ. Ngoài tranh Thiền tông còn mười bức tranh  Đại thừa, thứ tự có khác. Đại thừa chủ yếu là tu tiệm, theo tầng bậc, còn Thiền tông mang ý nghĩa tu thì tiệm nhưng ngộ thì lại đốn, vì ngộ có thể đến bất kỳ lúc nào (hoát nhiên đại ngộ). Ngài chỉ liên tưởng hai bức trong số 10 bức tranh Thiền tông. Đó là bức tranh thứ sáu và thứ tám.

“Mục đồng thổi sáo trâu về hết.”

Bức tranh cảnh vật hiện lên với sắc màu của buổi hoàng hôn hòa quyện cùng tiếng sáo của mục đồng đang cưỡi trên lưng trâu. Bức tranh buổi chiều thật êm đềm, thanh bình, tĩnh lặng. Đậm nét tà dương nhưng không kém phần sinh động: Từng bước chân trâu trên đường làng, tiếng sáo dập dìu, sự thanh thản của mục đồng sau một ngày làm việc. Hình ảnh người mục đồng vừa thổi sáo vừa cưỡi trâu trên đường về là một thực tại đang diễn ra. Nhưng ẩn sâu bên trong sự  tả thực ấy là bức tranh thứ 6 (Tranh Thiền tông) biểu tượng cho một thiền giả đã tìm được và thuần phục tâm của mình, (trâu tượng trưng cho Chân tâm) vì tu thiền phải nhận rõ bản tâm.

– Phước Châu Đại An hỏi: “Tôi khao khát hiểu pháp Phật, đó như cái gì?”

– Bách Trượng đáp: “Hệt như cưỡi trâu tìm trâu”

– Hỏi: “Hiểu rồi thì như thế nào?

– Đáp: “Như cưỡi trâu về nhà”

Những suy nghĩ, lo âu… thấy cảnh vội duyên theo..hay bàn chuyện phiếm, việc này nối tiếp chuyện kia đó là những vọng tâm, do đó trong nhà thiền có thành ngữ: ‘Tâm viên, ý mã” (Tâm lăng xăng như vượn chuyền cành, ý nghĩ thay đổi, biến động như ngựa chạy). Đến lúc không còn phải chăn trâu nữa, mục đồng chỉ cần cưỡi trâu là trâu tự đi về tức là cưỡi tâm về chỗ ban sơ, người và trâu bây giờ là một, tâm ở ngay nơi chính ta, tâm đã được điều phục, trở về với trạng thái tịch tĩnh như nhiên vốn có của tâm lúc ban đầu. Thường thì tâm của hành giả luôn vọng động, chạy theo sau trần, nhưng đến đây tâm được thuần phục do miên mật tu hành theo lộ trình: Giới – Định – Tuệ cùng với Chỉ – Quán.

“Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.”

Sau khi quên trâu còn người, đến bức tranh người và trâu đều quên, được khắc họa thành hình ảnh vòng tròn viên mãn. (Bức tranh thứ 8 – Tranh Thiền tông). Đôi cò trắng liệng xuống đồng. Trước khi đáp xuống ruộng lúa, cò thường bay lượn thành vòng tròn trên không rồi từ từ đáp xuống. Với cái nhìn cảnh vật thật tinh tế, Phật hoàng đã ghi nhận hình ảnh đẹp của đôi cò trắng. Màu trắng của cánh cò hòa cùng màu xanh của lúa non, bức tranh màu sắc còn thêm tươi nguyên. Thiết nghĩ, Phật hoàng đã nêu rõ những bước tiến của hành giả tu Thiền. Đến lúc này, sau khi đã thuần phục, trâu (Tâm) không còn tự tung tự tác, không còn ăn lúa mạ của người, không còn chạy theo sáu trần (vọng tâm) nữa, rồi đến bước tiếp theo, bức tranh thứ bảy, quên trâu còn người để rồi tiếp theo là bức tranh thứ tám: Người trâu đều quên được thể hiện bởi vòng tròn viên mãn.

Vậy, ngoài bức tranh được ghi nhận về phong cảnh buổi chiều tà ở hành cung Thiên Trường, Phật hoàng còn cho đệ tử và hậu thế thấy rõ tâm thiền qua những bức tranh được Ngài nhắc đến trong “Thập mục ngưu đồ”, tranh Thiền tông, mà những hành giả tu theo pháp môn Thiền không ai là không biết.

Qua bài thơ “Thiên Trường vãn vọng” của Phật hoàng Trần Nhân Tông, các bức tranh nêu trên chỉ là những hình ảnh mang tính biểu tượng để thể hiện tư tưởng thiền. Rõ ràng, trong hành trang của Ngài để lại, những đệ tử của Phật hoàng và hậu sinh ngày nay đều thấy rõ Ngài là bậc chân sư đắc đạo.

Là một thiền sư, với cái nhìn trực giác, thấy cảnh chỉ là cảnh, thường thì “tức cảnh sinh tình” nhưng Ngài chỉ thấy như thấy, nhờ đó sẽ không dẫn đến việc “tình sanh thì trí cách”. Chắc bấy giờ Ngài đạt đến cảnh giới “thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước” (Thiền sư Nguyên Duy Tín).

“Bất lập văn tự” (Bồ Đề Đạt Ma), “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (Trúc Lâm Đại Đầu Đà), …Chư Tổ đã dạy, nhưng để thể hiện tâm thiền, quý Tổ đã sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, phải chăng đây chính là kinh nghiệm tu chứng của chư Tổ, hậu sinh phải vượt qua hàng rào ngôn ngữ mới nhận được tâm thiền. Như vậy, người đọc không chấp vào câu chữ (ý ngoài lời) để cảm nhận sự sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh mang tính biểu tượng của thiền sư.

Phạm Sáu (Như Thích)